Nghị định 41 đã chuẩn hóa hệ thống khái niệm tại Điều 3. Các khái niệm liên quan trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản được quy định rõ, bao gồm: nuôi trồng thủy sản (khoản 1), nuôi trồng thủy sản thâm canh (khoản 2), nuôi trồng thủy sản bán thâm canh (khoản 3), giá thể trong nuôi trồng thủy sản (khoản 4), tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản (khoản 18) và thức ăn thủy sản tự chế biến (khoản 19).
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, các khái niệm này trước đây được quy định phân tán, một số thuật ngữ chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn phát triển nhanh của nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các hình thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh, nuôi biển và nuôi ứng dụng công nghệ cao. Nghị định 37/2024/NĐ-CP mới chỉ sửa đổi, bổ sung cục bộ một số nội dung liên quan đến thủ tục và điều kiện, chưa đặt lại hệ thống khái niệm nền tảng.
Việc Nghị định 41 chuẩn hóa khái niệm ngay từ đầu giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước, hạn chế tình trạng mỗi địa phương vận dụng khác nhau, đồng thời tạo cơ sở để kết nối quản lý nuôi trồng thủy sản với các lĩnh vực liên quan như bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Quản lý điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản: từ “đủ điều kiện” sang “đủ chuẩn”
Một nội dung trọng tâm của Chương về nuôi trồng thủy sản trong Nghị định 41 là quản lý điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản. Các quy định này được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các điều của Luật Thủy sản, đặc biệt là các quy định liên quan đến điều kiện cơ sở nuôi và trách nhiệm quản lý nhà nước.
Nghị định 41 quy định rõ cơ sở nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các yêu cầu về địa điểm, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống cấp - thoát nước, thu gom và xử lý chất thải, bảo đảm an toàn sinh học và bảo vệ môi trường. Đồng thời, nghị định quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi và kiểm tra duy trì điều kiện đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản, gắn trách nhiệm pháp lý trực tiếp với tổ chức, cá nhân nuôi.
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, quy định về điều kiện cơ sở nuôi trước đây chủ yếu mang tính “điều kiện tối thiểu”, tập trung vào khâu cấp phép ban đầu, trong khi cơ chế hậu kiểm chưa được nhấn mạnh đầy đủ. Nghị định 37/2024/NĐ-CP đã bổ sung cơ chế đánh giá trực tuyến, gia hạn hoặc tạm hoãn kiểm tra trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh.
Nghị định 41 kế thừa các nội dung này, đồng thời định hình rõ hơn mô hình quản lý kết hợp tiền kiểm - hậu kiểm, chuyển dần trách nhiệm bảo đảm điều kiện từ cơ quan quản lý sang chính cơ sở nuôi, phù hợp với thông lệ quản lý hiện đại và xu hướng giảm gánh nặng thủ tục hành chính.
Quản lý giống thủy sản: siết chặt truy xuất và trách nhiệm đầu chuỗi
Giống thủy sản được xác định là khâu đầu tiên và có tính quyết định đối với hiệu quả, năng suất và tính bền vững của nuôi trồng thủy sản. Nghị định 41 dành nhiều nội dung trong Chương về nuôi trồng thủy sản để cụ thể hóa các quy định của Luật Thủy sản về sản xuất, ương dưỡng và lưu thông giống thủy sản.
Theo đó, cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản phải duy trì điều kiện sản xuất theo quy định, thực hiện ghi chép, lưu giữ hồ sơ, bảo đảm truy xuất nguồn gốc giống và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Các quy định này nhằm bảo đảm giống thủy sản đưa vào nuôi trồng có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng phù hợp và an toàn sinh học.
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc giống đã được đề cập nhưng chưa gắn chặt với quản lý chuỗi nuôi trồng. Nghị định 41 đã làm rõ hơn mối liên kết giữa quản lý giống, quản lý dịch bệnh và quản lý môi trường nuôi, coi đây là một chỉnh thể thống nhất thay vì các khâu rời rạc.
Quản lý thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường: kiểm soát để bảo vệ hệ sinh thái nuôi
Nội dung quan trọng về quản lý thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Nghị định 41 tiếp tục khẳng định thức ăn thủy sản lưu thông trên thị trường phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, được công bố tiêu chuẩn áp dụng và chịu sự kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước.
Đối với thức ăn thủy sản tự chế biến, Nghị định 41 quy định rõ chỉ được sử dụng trong phạm vi cơ sở nuôi trồng, không được lưu thông trên thị trường (Điều 3 khoản 19). Quy định này nhằm kiểm soát rủi ro về chất lượng, an toàn sinh học và an toàn thực phẩm, đồng thời hạn chế việc sử dụng thức ăn không rõ thành phần, khó truy xuất khi xảy ra sự cố.
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, quy định về thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường trong Nghị định 41 được diễn đạt rõ ràng hơn, tăng tính khả thi trong tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm. Đây là bước điều chỉnh quan trọng trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản thâm canh, siêu thâm canh ngày càng phát triển, kéo theo nguy cơ ô nhiễm môi trường và bùng phát dịch bệnh nếu không được kiểm soát tốt.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản: quản lý theo chuỗi và minh bạch thông tin
Nghị định 41 nhấn mạnh trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trong việc tuân thủ pháp luật, bảo đảm an toàn sinh học, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép, báo cáo, lưu giữ hồ sơ về quá trình nuôi trồng.
Các quy định trong Chương về nuôi trồng thủy sản yêu cầu cơ sở nuôi phải lưu giữ thông tin về giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản và các sản phẩm xử lý môi trường được sử dụng trong quá trình nuôi. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư duy quản lý theo chuỗi, kết nối quản lý nuôi trồng với các khâu tiếp theo như chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, đây là bước chuyển quan trọng, giúp tăng tính minh bạch của chuỗi sản xuất thủy sản và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nuôi trồng thủy sản
Nghị định 41 có các điều khoản cụ thể quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh trong quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn. Địa phương có trách nhiệm tổ chức quản lý vùng nuôi, kiểm tra điều kiện cơ sở nuôi, xử lý vi phạm và tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người nuôi.
So với Nghị định 26/2019/NĐ-CP, trách nhiệm của địa phương trong Nghị định 41 được quy định rõ ràng hơn, gắn với yêu cầu quản lý dữ liệu, phối hợp liên ngành và chịu trách nhiệm về hiệu quả quản lý nuôi trồng thủy sản trên địa bàn.
Các quy định về nuôi trồng thủy sản trong Nghị định 41 cũng phản ánh xu hướng chung của quản lý thủy sản quốc tế, trong đó nhấn mạnh phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, an toàn sinh học và minh bạch chuỗi cung ứng. Việc tăng cường quản lý điều kiện cơ sở nuôi, truy xuất nguồn gốc giống, kiểm soát thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường là những nội dung phù hợp với yêu cầu của nhiều thị trường nhập khẩu lớn đối với sản phẩm thủy sản nuôi.
Có thể khẳng định rằng, quy định về nuôi trồng thủy sản trong Nghị định 41/2026/NĐ-CP không chỉ kế thừa các quy định của Nghị định 26/2019/NĐ-CP và các sửa đổi tại Nghị định 37/2024/NĐ-CP, mà còn tái cấu trúc toàn diện tư duy quản lý nuôi trồng thủy sản. Từ chuẩn hóa khái niệm, nâng cao yêu cầu điều kiện cơ sở, tăng cường truy xuất nguồn gốc giống, đến quản lý thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường, nghị định đã đặt nền tảng pháp lý cho phát triển nuôi trồng thủy sản hiện đại, minh bạch và bền vững.
Hải Đăng